Bài Viết
1. Chuyển Hóa, 2. Chính Trị - Kinh Tế, 3. Văn Hóa - Xã Hội, 7. Diễn Đàn Bạn Đọc

VIỆT NAM: CON ĐƯỜNG TRƯỚC MẶT

Đoàn Viết Hoạt

Một ngàn năm truóc đây cha ông chúng ta đã bước ra khỏi bóng tối của huyền sử và vũng lầy của thời kỳ nô lệ để tuyên xưng Nam Đế và dựng lên một Nam Quốc Đại Việt độc lập tự chủ. Ngày nay, Hoàng thành Thăng Long, cố đô Đại Việt 1000, đã hiện lên tại Hà Nội như một chứng tích sừng sững của bề dầy ngàn năm lịch sử dân tộc. Cố đô Đại Việt hiện lên chỉ vài năm trước năm tuổi 1000 (2010) như một thông điệp của tìền nhân gửi cho mỗi con dân Việt dù đang linh lạc tha hương hay ngay tại quê nhà. Thông điệp ấy trao gửi một mong ước của tiền nhân: con cháu Việt Tộc Hai Ngàn hãy cùng nhau xây dựng một Đại Việt mới, hưng thịnh và kỹ vĩ hơn Đại Việt Lý Trần.

Thông điệp xuyên thời gian ấy được gửi đến chúng ta vào những năm đầu tiên của thiên niên kỷ thứ ba vừa như lời hiệu triệu vừa như một thách đố. Chúng ta phải nhanh chóng mở đường cho sự ra đời một nước Việt mới. Một nước Việt thoát ra khỏi thời kỳ hèn kém kéo dài từ cả trăm năm đến tận hôm nay. Một nước Việt xứng đáng với bề dầy lịch sử dân tộc, với sức sống và tiềm năng sáng tạo và tiến hóa không ngừng của người Việt. Thông điệp của tiền nhân trao phó cho chúng ta hai nhiệm vụ: tháo gỡ mọi chướng ngại hiện tại đang ngăn cản con đường tiến lên của dân tộc và mở ra một sinh lộ đưa dân tộc vào thời kỳ phát triển mới.

Vào những năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới này chúng tôi tin rằng thông điệp lịch sử nói trên đã được nhiều người dân Việt trong ngoài nước tiếp nhận. Rất nhiều nỗ lực đã và đang được thực hiện, bằng nhiều cách khác nhau, trong những điều kiện và hoàn cảnh chính trị xã hội khác nhau, ở quốc nội cũng như ở hải ngoại. Tuy nhiên, thế kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ mới đã bắt đầu nhưng vận hội mới của dân tộc vẫn chưa thấy khai mở. Sức nặng của quá khứ vẫn còn đè chĩu trên hiện tại ngăn chặn lộ trình tiến vào tương lai của dân tộc. Nhiều cơ hội phục hưng dân tộc đã bị bỏ lỡ. Môi trường và điều kiện tiến hóa thuận lợi của thế giới và thời đại đã không được tận dụng. Những nước tiên tiến đã bước sang thời kỳ phát triển vi điện tử. Nhiều dân tộc anh em trong khu vực đã bỏ xa dân tộc ta hàng nhiều thập kỷ. Thực trạng tụt hậu này của đất nước đã quá hiển nhiên khiến cho không một người Việt có lương tri nào không ưu tư, day dứt.

Ngay từ sau 30 tháng 4 năm 1975, khi chế độ cộng sản đã lộ rõ sự thất bại trong kiến thiết ngay khi vừa thắng lợi trong chiến tranh, nhiều cuộc vận động chính trị-xã hội đã tự động nổ ra ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Trải qua nhiều đợt đấu tranh nối tiếp nhau, cuộc vận động này ngày nay đã có được sự tham gia của nhiều thành phần dân tộc khác nhau và đang có triển vọng trở thành một phong trào văn hóa-chính trị-xã hội rộng lớn. Triển vọng này nẩy sinh ngay từ những vấn nạn xã hội ngày một trầm trọng, và ngay từ trong đời sống thường ngày của người dân, cũng như từ nhiều đợt đấu tranh và vận động văn hóa, chính trị, xã hội không ngừng trong ngoài đảng cộng sản, trong ngoài nước. Những đợt đấu tranh và vận động này phản ảnh một xu thế văn hóa-chính trị-xã hội mới không gì ngăn cản được. Những người dân chủ trong ngoài nước thuộc mọi đoàn thể và khuynh hướng chính trị khác nhau đang có điều kiện và thời cơ thuận lợi để đưa xu thế này thành một cao trào chính trị-xã hội lớn mạnh.

Nhưng để đẩy xu thế thành phong trào hành động có hiệu quả, những người Việt yêu nước, yêu dân chủ tự do trong ngoài nước cần đưa ra được giải pháp thay thế giải pháp cộng sản hiện nay – một giải pháp có viễn kiến, mở ra con đường phát triển bền vững cho đất nước, ngang tầm vóc thời đại, hợp trào lưu phát triển chung của nhân loại, và được quốc dân đồng tình chấp nhận.

Chúng tôi tin rằng đất nước và xã hội Việt Nam đang ở vào giai đoạn chuyển tiếp cuối cùng từ thời kỳ suy thoái sang thời kỳ hưng thịnh. Trong giai đoạn chuyển tiếp sau cùng này, toàn đất nước, kể cả ban lãnh đạo cộng sản đang cầm quyền và toàn xã hội Việt, toàn dân Việt, đều đang phải chịu những áp lực đòi hỏi phát triển mạnh mẽ và dồn dập từ trong nội tại dân tộc và từ ngoài quốc tế vào. Những áp lực này xuất phát từ xu thế tiến hóa khách quan của thế giới và thời đại, và từ nhu cầu phát triển chủ quan của dân tộc chúng ta.

Nhân loại và thế giới đã trải qua giai đoạn phát triển cận đại mang nhiều tính tự phát nhưng cũng đã đạt được nhiều tiến bộ. Đời sống con người đã được tăng tiến về tiện nghi vật chất và quản lý xã hội, và đang bước vào giai đoạn phát triển cao hơn về tinh thần và đạo lý, trong đó nhân phẩm và khả năng tự chủ động đời sống của con người ngày được trân trọng và nâng cao. Nhân phẩm và khả năng nhân chủ đó, đang được phát huy, giúp toàn nhân loại và mỗi dân tộc vượt qua những trở ngại tinh thần và vật thể, để cùng nhau giải quyết những vấn đề toàn cầu trong tình cảm và ý thức rằng tất cả các dân tộc đều thuộc một đại gia đình nhân loại. Từ đó, một cộng đồng nhân loại toàn cầu có triển vọng ra đời trong thế kỷ XXI, một cộng đồng nhân loại đa văn hóa, đa chủng tộc, cùng hợp tác để xây dựng một đời sống hòa bình, nhân bản, hợp nhân tính và có nhân phẩm cho mọi dân tộc. Một cộng đồng quốc tế như thế đang hình thành, vượt qua những khác biệt và kỳ thị nhân chủng và văn hóa-xã hội Đông-Tây, Nam-Bắc. Trong viễn cảnh đó của nhân loại và thế giới, dân tộc Việt đang đứng trước một chân trời phát triển rộng mở đầy triển vọng. Dân tộc chúng ta phải nhanh chóng giải quyết những yếu kém trong bản thân nền văn hóa Việt và trong cơ chế và sinh hoạt chính trị-xã hội hiện nay để tận dụng được cơ hội này.

Từ mấy trăm năm nay dân tộc chúng ta đã liên tục mở rộng không gian sinh tồn, từ nơi đất cổ miền châu thổ sông Hồng xuống tới bờ biển tận cùng của đồng bằng Cửu Long. Ngày nay, biến cố 1975 đã tạo ra thêm một bộ phận Việt tộc quốc tế – cộng đồng người Việt hải ngoại – như một nhân tố hoàn toàn mới trong quá trình dân tộc phát triển ra toàn nhân loại và toàn thế giới. Trong quá trình phát triển mấy trăm năm này, dân tộc ta đã tiếp thu các chất liệu nhân chủng, văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán từ hầu hết các nền văn hóa và tôn giáo lớn của các dân tộc Á-Âu. Nhưng mọi tiếp thu, dù vật thể hay tinh thần, không được đãi lọc, chưa kịp thẩm thấu và tiêu hóa, chỉ là những “vật lạ”, không những không giúp cho cơ thể lớn mạnh mà còn có thể phát sinh những độc tố và những chất đề kháng làm cho cơ thể suy yếu và bệnh tật. Hậu quả là dân tộc bị chìm đắm trong chia rẽ và nội chiến – hơn 100 năm Trịnh-Nguyễn phân tranh và nửa thế kỷ tương tranh quốc-cộng. Sự thống nhất về địa lý và chính trị không đủ tạo điều kiện để thống nhất dân tộc nếu dân tộc chưa định hình được về mặt văn hóa và xã hội, và nhất là chưa tìm được con đường phát triển thích hợp trong thời đại mới. Độc lập chính trị không thể bền vững và chân chính khi chưa có độc lập văn hóa và tư tưởng. Thống nhất chính trị và địa lý chưa thể kết hợp dân tộc sâu rộng và bền vững nếu cơ chế và đường lối chính trị-xã hội không tạo môi trường và điều kiện để các thành phần dân tộc khác nhau đều có cơ hội được cùng sống và giúp nhau cùng tiến.

Chúng tôi cho rằng dân tộc ta sẽ không thể phát huy được sức sống tiềm tàng của mình và phát triển được đất nước ngang tầm vóc thời đại nếu không giải quyết triệt để được vấn đề độc lập và thống nhất chân chính này, vấn đề đã kéo dài từ nhìều thế kỷ qua cho đến tận hôm nay. Vấn đề này lại càng trở thành nhược điểm trầm trọng hơn khi dân tộc ta đang phải hội nhập vào đời sống quốc tế trong thời đại toàn cầu. Nhược điểm ấy phản ảnh trong tầm nhìn hạn hẹp và bản lãnh yếu kém của giới lãnh đạo chính quyền, và trong tình trạng nghèo hèn chậm tiến hiện nay của đất nước và xã hội Việt Nam. Tình trạng đảo lộn, bấp bênh, mất ổn định thường trực trong nếp sống cá nhân, gia đình và xã hội cũng là một nhược điểm nghiêm trọng. Nếp tư duy và lối sống thiên nhiều về cạnh tranh tự vệ để sinh tồn hơn là bao dung, hòa ái, cùng người cùng sống và giúp nhau cùng tiến không giúp tạo được tổng lực phát triển đất nước. Nhược điểm của dân tộc ta cũng phản ảnh trong thái độ vừa tự ti vừa tự tôn dân tộc, trong sự hoài nghi và chia rẽ dân tộc – chia rẽ trong chiến tranh và trong cả hòa bình. Nó làm cho mỗi cá nhân người Việt không tìm thấy niềm tự tin chính đáng và bền vững vào bản thân mình, dân tộc mình và vào cái xã hội mà mình sinh ra và lớn lên. Nó làm cho nhiều người Việt, dù yêu nước, dù đang ở đâu và đứng trong trận tuyến tư tưởng chính trị nào, cũng chưa thật sự có được cơ sở tư tưởng và thực tiễn vững chắc để tin tưởng vào tiền đồ tươi sáng của dân tộc.

Ngày nay nhược điểm căn bản đó đang đe dọa chính sự tồn tại của dân tộc Việt như là một dân tộc có bản sắc trong cộng đồng nhân loại. Mỗi người Việt hôm nay dường như đều cảm thấy rằng mình chỉ có thể duy trì được sinh mệnh của mình, chỉ phát huy được tiềm năng của mình, chỉ đạt được ước mơ của mình, bằng những nỗ lực bươn chải đơn độc dù ngay trên quê hương yêu dấu hay nơi đất khách quê người, và không nhất thiết phải tự cảm nhận sâu sắc và chân thật như là một người Việt. Sự ra đời của cộng đồng Việt quốc tế vừa đẩy nhanh và mở rộng tiến trình thâu hóa của dân tộc đến đỉnh cao nhất cả về mặt địa lý, nhân chủng, và văn hóa, lại vừa làm nổi bật lên nhu cầu định vị và định hình được quốc gia và dân tộc Việt Nam, Việt tộc và Việt tính trong thời đại 2000 – thời đại mà sự phát triển của dân tộc không những không thể tách rời, mà còn hoà nhịp với sự phát triển chung của nhân loại và thế giới. Định hình con đường phát triển của dân tộc và đất nước, tổ chức chính trị, xã hội và kinh tế Việt. Định hình về phong hóa, nếp sống cá nhân, gia đình và xã hội Việt, về quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng xã hội, giữa người dân và chính quyền. Định vị quan hệ giữa quốc gia và quốc tế, giữa bản sắc dân tộc, Việt tính, với đời sống quốc tế đa dạng phong phú trong một cộng đồng nhân loại đa dân tộc, đa văn hóa đang ra đời.

Định vị và định hình được dân tộc và quốc gia Việt Nam trong cộng đồng nhân loại là một nhu cầu lịch sử và thời đại, để cộng đồng Việt tộc có thể sinh tồn và phát triển trong thời đại toàn cầu toàn nhân loại đang mở ra cho tất cả các dân tộc. Công việc định vị và định hình lại dân tộc đó đòi hỏi sự đóng góp tâm sức của nhiều người thuộc nhiều thành phần dân tộc khác nhau. Đất nước ta cần một cơ chế và những chính sách chính trị-xã hội tự do, bao dung, cởi mở, mới tạo được môi trường tinh thần và điều kiện vật thể thuận lợi cho sự đóng góp này.

Chủ nghĩa Mác với cơ chế chính trị-xã hội cộng sản đã không tạo được môi trường đó và đã thất bại ở ngay trung tâm quốc tế của nó. Nó cũng đã thất bại tại Việt Nam ngay sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, và tới nay, dù đã phải đổi mới và đang tìm cách “lột xác” nhưng sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu phát triển của dân tộc trong thời đại toàn cầu nếu không thay đổi thật sự, triệt để và toàn diện. Chính sách “đổi mới” về kinh tế của ban lãnh đạo cộng sản, dù giúp cải thiện phần nào đời sống người dân, nhưng đang làm nẩy sinh những vấn đề văn hóa-xã hội hết sức nghiêm trọng, đe dọa triệt tiêu cơ hội phát triển một đời sống nhân bản, có nhân phẩm và hợp nhân tính. “Đổi mới” chỉ nhằm duy trì và tăng cường độc quyền lãnh đạo của một đảng chính trị, dù nhân danh bất cứ gì, không thể phát huy được tiềm năng đa dạng của toàn dân để đưa dân tộc vào thời kỳ hưng thịnh toàn diện và bền vững. Những tiến bộ đang đạt được, kể cả trên mặt kinh tế, chưa tương xứng với tiềm năng hết sức dồi dào phong phú của con người và của nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam. Hơn nữa, tiến bộ đó là kết quả đương nhiên, mang nhiều tính tự phát, của một xã hội đang tự bung thoát ra khỏi sự khống chế của cơ chế độc đoán. Người dân Việt và xã hội Việt đang tự vươn dậy, tự bung phá, tự lớn mạnh, vượt ra ngoài sự lãnh đạo và cơ chế cộng sản. Họ có thể làm được điều đó nhờ những cánh cửa đang ngày càng phải mở ra với thế giới bên ngoài. Họ phải làm điều đó cũng vì ban lãnh đạo cộng sản hiện nay chỉ “đổi mới” như là một phản ứng bị động truớc áp lực của quốc tế và của tình thế. Trong bối cảnh của một thế giới toàn cầu, toàn nhân loại, và vào giai đoạn phát triển quốc tế của dân tộc trong thế kỷ XXI, đất nước ta cần một lãnh đạo có tầm nhìn và bản lãnh ngang tầm vóc thời đại.

Từ nhiều năm nay những người Việt yêu nước, yêu tự do đã tích cực vận động cho sự thay đổi toàn diện của đất nước. Những tiếng nói đòi tự do dân chủ, ở trong và ngoài đảng cộng sản, ngày càng dâng cao và lan rộng khắp nước. Từ những văn nghệ sĩ và trí thức tiến bộ đến những người cộng sản lão thành và những thanh niên sinh ra và lớn lên sau năm 1975 – những người Việt yêu nước trong thời đại mới – đã bất chấp mọi nguy hiểm, chết chóc, tù đầy, đàn áp, trực diện với bạo quyền trong cuộc vận động kiên cường nhưng ôn hòa bất bạo động đòi tự do dân chủ và tiến bộ cho toàn dân Việt.

Riêng tôi và những người bạn đồng chí hướng, ngay từ cuối thập niên 1980 ở trong nước, đã tiến hành một cuộc vận động văn hóa-chính trị-xã hội mới, khởi đi bằng một tầm nhìn về dân tộc Việt trong thời đại phát triển quốc tế. Tầm nhìn này đặt định vị trí dân tộc Việt và đường hướng phát triển Việt Nam trong bối cảnh một thế giới và nhân loại toàn cầu đang đổi thay vùn vụt trong thời đại mới. Từ tầm nhìn dân tộc hướng về thế kỷ XXI, chúng tôi cho rằng cần tiến hành một cuộc vận động văn hóa-tư tưởng và chính trị-xã hội rộng lớn nhằm hai mục đích: giúp cho toàn dân lấy lại được quyền chủ động toàn diện và chân chính, và xây dựng được một đường lối và cơ chế lãnh đạo văn hóa, chính trị-xã hội đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong thời đại toàn cầu. Đây là hai điều kiện cần phải có để dân tộc Việt phục hưng và phát triển trong thế kỷ XXI.

Chúng tôi cho rằng những người dân chủ và tiến bộ trong ngoài nước cần tích cực hỗ trợ để toàn dân Việt có thể nhanh chóng từ chỗ tự phát bung phá tiến đến chủ động cất cánh đưa dân tộc vào thời đại phục hưng. Để người dân Việt lấy lại được quyền thật sự làm chủ mọi sinh hoạt xã hội, từ kinh tế đến văn hóa, giáo dục, xã hội và chính trị. Để từ đó quốc gia Việt Nam và toàn dân Việt mới thực sự chủ động được quá trình phát triển đất nước, không trở thành vệ tinh trong quĩ đạo của một siêu cường nào.

Cuộc vận động toàn diện hiện nay của chúng ta là một bộ phận trong cuộc vận động lịch sử sâu rộng của dân tộc ta trong tiến trình vượt thoát khỏi thời kỳ suy thoái của những thế kỷ trước để tiến vào thời kỳ hưng thịnh của những thế kỷ đang tới. Đây không phải chỉ là một cuộc đấu tranh dành quyền lực chính trị. Đây là cuộc vận động để khơi mở con đường phát triển của đất nước, để phục hưng được dân tộc cho ngang tầm với sức sống tiềm tàng của người dân Việt và xu thế phát triển chung của thế giới và nhân loại. Cuộc vận động hiện nay xuất phát từ nhân định rằng dân tộc chúng ta có khả năng xây dựng được một đời sống ấm no, tự do và có nhân phẩm nhưng đường lối và cơ chế văn hóa-chính trị-xã hội cộng sản hiện nay không giúp phát huy được khả năng này. Cuộc vận động này nhằm tạo môi trường và cơ hội thuận lợi để mọi thành phần dân tộc, mọi khuynh hướng văn hóa-chính trị-xã hội khác nhau trong nước và hải ngoại đều có thể cùng đóng góp vào việc tháo gỡ bế tắc hiện nay và thiết lập thể chế dân chủ tự do cho đất nước.

Từ nhiều năm nay, tôi và những anh chị em đồng chí hướng tiếp tục cuộc vận động này trong môi trường hải ngoại và quốc tế. Chúng tôi đề nghị với thành phần tiến bộ và dân chủ trong ngoài nước cùng đưa ra trước quốc dân và trước quốc tế giải pháp dân chủ toàn diện cho Việt Nam thay thế giải pháp cộng sản hiện nay.

Chúng tôi đề nghị giải pháp dân chủ với một tầm nhìn dân tộc trong thời đại toàn cầu, và một sách lược dân chủ toàn dân và toàn diện. Tầm nhìn dân tộc trong thời đại toàn cầu đặt cuộc vận động dân chủ trong tiến trình dân tộc phát triển ra quốc tế, đưa dân tộc hội nhập thế giới, thời đại và nhân loại trong thế kỷ XXI. Sách lược dân chủ nhằm tạo điều kiện và thực lực toàn diện, văn hóa-chính trị-xã hội, cho phe dân chủ. Chúng tôi đưa ra lộ trình dân chủ toàn diện để thực hiện sách lược dân chủ.

Lộ trình dân chủ mà chúng tôi đưa ra được xây dựng trên quan điểm dân chủ toàn dân và toàn diện. Dân chủ toàn dân để cho mọi thành phần dân tộc đều được có cơ hội bình đẳng, không một thành phần dân tộc nào bị kỳ thị, phân biệt đối xử và bị đặt ra ngoài tiến trình dân chủ hóa. Vì toàn dân nên dân chủ cũng phải toàn diện. Dân chủ toàn diện nghĩa là dân chủ phải được thể hiện trong tất cả các lãnh vực hoạt động của xã hội, từ kinh tế đến văn hóa giáo dục và chính trị, để phát huy hết mọi tiềm năng đa dạng phong phú của mọi thành phần dân tộc và mọi giai tầng xã hội khác nhau. Có dân chủ toàn diện mới dân chủ toàn dân được. Dân chủ toàn diện còn có nghĩa là dân chủ hóa cả cơ chế chính quyền và sinh hoạt xã hội. Ngoài việc chính quyền các cấp, kể cả những chức vụ cao nhất, phải được dân cử trực tiếp và tự do qua các cuộc bầu cử tự do đa đảng, dân chủ còn phải được thể hiện toàn diện trong mọi sinh họạt xã hội để cho người dân thật sự làm chủ toàn bộ đời sống của mình. Chính dân chủ trong xã hội và trong đời sống thường ngày của người dân giúp xây dựng được nền tảng bền vững cho chế độ dân chủ chân chính. Nề nếp sinh hoạt dân chủ trong xã hội lại cần được bảo đảm bởi luật pháp qua chế độ pháp trị. Nhờ đó chế độ dân chủ pháp trị vừa tạo được bình đẳng cơ hội cho mọi người dân để từ đó khơi dậy và phát huy được tiềm năng toàn diện của mọi thành phần dân tộc cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Phát huy dân chủ trong xã hội, trong đời sống của người dân chính là xây dựng một xã hội của người dân, không phải của chính quyền, của đảng cầm quyền – một xã hội đa nguyên, do người dân và cho người dân, tự do và độc lập đối với chính quyền và đảng cầm quyền. Từ đó, mới có được sức mạnh thực thể cho quốc gia dân tộc – sức mạnh của xã hội và của người dân. Trong đường hướng phát triển bền vững, đây cũng là công việc xây dựng một đối trọng chính trị-xã hội thường trực cần thiết để kiểm soát giới cầm quyền và ngăn chặn mọi mầm mống độc tài. Chính trong khi vận động tự do hóa xã hội và dân chủ hóa chính quyền chúng ta đồng thời xây dựng nền tảng và môi trường tinh thần và vật thể thuận lợi cho việc xây dựng một xã hội Việt Nam mới, tự do, tiến bộ và phát triển bền vững trong thế kỷ XXI.

Mục tiêu trước mắt của cuộc vận động dân chủ là tháo gỡ được cơ chế độc tài độc đảng cộng sản hiện nay. Có 3 cách để đạt mục tiêu này: (1) lật đổ chế độ hiện hữu bằng bạo lực; (2) ban lãnh đạo CSVN chấp nhận chuyển sang chế độ dân chủ; (3) thúc đẩy tiến trình tự do hóa xã hội để tạo áp lực nội tại và các điều kiện chín muồi đẩy nhanh tới việc dân chủ hóa chính quyền hoặc ôn hòa, hoặc qua đột biến chính trị-xã hội. Chúng tôi cho rằng giải pháp thứ ba là giải pháp khả thi, trong điều kiện và bối cảnh hiện nay của thế giới, hải ngoại và trong nước. Do đó, từ nhiều năm nay chúng tôi đã tiến hành một cuộc vận động cho một tầm nhìn Việt Nam thế kỷ XXI, sách lược chuyển hóa dân chủ và lộ trình dân chủ hóa toàn diện qua ba giai đoạn.

Chúng tôi đề nghị lộ trình dân chủ hóa toàn diện Việt Nam qua ba giai đoạn dựa trên 3 nhận định: (1) ba trào lưu tất yếu không thể đảo ngược của thời đại hiện nay là kinh tế thị trường, xã hội tự do và chính trị dân chủ; (2) người dân phải là mục đích đồng thời là động lực của tiến trình dân chủ hóa thì tiến trình này mới sớm thành công; (3) ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam chỉ thay đổi dưới áp lực mạnh mẽ và có hiệu quả. Hiện nay đã có áp lực quốc tế và hải ngoại dù cần tăng cường hơn, nhưng áp lực nội tại mới bắt đầu và còn nhiều tự phát. Áp lực nội tại là áp lực từ xã hội và người dân lên và từ ngay bên trong cơ chế của đảng và nhà nước cộng sản. Không có áp lực nội tại thì không buộc được ban lãnh đạo cộng sản phải thay đổi, và những người dân chủ luôn luôn ở thế bị động.

Lộ trình dân chủ hóa ba giai đoạn nhằm tạo được áp lực nội tại này bằng cách giúp gia tốc sức mạnh toàn diện của mọi thành phần dân chúng cả về vật chất (kinh tế) lẫn tinh thần (văn hóa, giáo dục, thông tin, xã hội). Đồng thời lộ trình cũng nhằm giúp mở bung mọi cánh cửa xã hội Việt Nam ra với thế giới (và với hải ngoại) để người dân có thể độc lập với và tiến đến đối lập với chính quyền độc tài. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và nền văn hoá giáo dục tự do trong một xã hội ngày càng cởi mở hơn giúp tăng cường được sức mạnh nội tại và toàn diện cho xã hội và cho người dân. Dưới áp lực của sức mạnh nội tại này ban lãnh đạo cộng sản sẽ bị đặt trước hai lựa chọn chính trị: hoặc chấp nhận dân chủ hóa chính quyền (như Đài Loan) hoặc bị lật đổ bằng đột biến chính trị-xã hội (như Nam Hàn, Indonesia). Cùng với mọi cá nhân và đoàn thể kinh tế, văn hoá, xã hội, góp phần tạo ra sức mạnh nội tại này, các chính trị gia và các lực lượng chính trị dân chủ trong ngoài nước sẽ được quần chúng trong nước ủng hộ và do đó sẽ có môi trường và điều kiện để xuất hiện và hoạt động công khai ở trong nước để tạo ra đột biến chính trị-xã hội. Tình hình quốc tế, hải ngoại và trong nước hiện nay đang thuận lợi để phe dân chủ và thành phần tiến bộ trong ngoài nước đẩy nhanh lộ trình này.

Chúng tôi tin rằng lộ trình dân chủ toàn diện giúp những người dân chủ tạo được thực lực bằng cách vận động dân chủ trên cả hai mặt chính quyền và người dân. Về mặt chính quyền, áp lực ngoại tại quốc tế và hải ngoại “bào mòn” dần sức mạnh của giới cầm quyền. Về mặt xã hội, người dân được mạnh lên toàn diện từ kinh tế đến văn hóa, giáo dục, chính trị. Giới cầm quyền bị yếu dần đi dưới áp lực ngoại tại (quốc tế và hải ngoại) và nội tại giúp mở đường cho người dân mạnh hơn lên, đồng thời người dân mạnh lên lại tạo thêm áp lực nội tại lên giới cầm quyền. Áp lực ngoại tại cùng áp lực nội tại, trong giai đoạn cuối cùng, với sự phối hợp hành động của thành phần dân chủ và tiến bộ, và sự hỗ trợ quốc tế, sẽ được tập trung vào ban lãnh đạo cộng sản để tạo thay đổi chính trị chuyển sang chế độ dân chủ. Thay đổi chính trị xẩy ra một cách hoà bình, hay qua đột biến chính trị-xã hội có sự tham gia của quần chúng, tùy thuộc thực lực của phe dân chủ và cách ứng xử của ban lãnh đạo cộng sản lúc đó. Để đạt được những thành quả này, trong thực tế, chúng ta cần tiến hành ba cuộc vận động.

Một là cuộc vận động ở trong nước để giúp người dân mạnh lên về mọi mặt, từ vật thể đến tinh thần, để người dân có thể độc lập và tiến đến trở thành thế đối trọng với giới cầm quyền hiện nay. Đây chính là cuộc vận động tự do hóa xã hội để tạo được tình trạng “không thể không” thay đổi chính trị và đặt chính quyền độc tài vào một trong hai lựa chọn: hoặc chấp nhận tiến trình dân chủ hóa chính quyền, hoặc phải đối đầu trực diện với áp lực của quần chúng. Cho đến nay áp lực từ ngoài vào — từ tình thế, từ cộng đồng quốc tế và từ hải ngoại — đã khiến ban lãnh đạo cộng sản “không thể không” tự do hóa kinh tế. Chúng ta cần giúp đẩy nhanh tiến trình tự do hóa tất cả các lãnh vực hoạt động xã hội ngoài lãnh vực kinh tế thương mại — như văn hóa, giáo dục, thông tin, tôn giáo, hoạt động nhân đạo — để tạo áp lực từ bên trong xã hội và bên trong đảng cộng sản, buộc ban lãnh đạo cộng sản “không thể không” thay đổi trong hai lãnh vực văn hóa và chính trị.

Hai là vận động thành phần tiến bộ và dân chủ trong nước và hải ngoại, trước hết, đồng ý về một tầm nhìn dân tộc trong thời đại mới,  một chương trình hành động chung để thúc đẩy tiến trình tự do hóa xã hội và dân chủ hóa chính quyền. Cần có một tầm nhìn dân tộc trong thời đại mới để cuộc vận động dân chủ có được viễn kiến vừa dân tộc vừa thời đại, giúp đưa cuộc vận động đến với mọi thành phần dân chúng trong ngoài nước, và đạt được sự ủng hộ tích cực của quốc tế. Chương trình hành động dân chủ nhằm giúp hình thành thế đối trọng của quần chúng đối với nhà cầm quyền và tạo được lực đối lập của phe dân chủ đối với đảng cộng sản ở ngay trong nước. Những người dân chủ trong ngoài nước phải có đủ sức mạnh vật thể để trở thành một lực đối lập công khai với đảng cộng sản mới có thể có được thế chủ động trong cuộc vận động dân chủ. Muốn thế, họ phải giúp người dân trong nước mạnh lên, trở thành thế đối trọng với nhà cầm quyền. Thế đối trọng của dân lại tạo môi trường để phe dân chủ tạo được lực đối lập ở ngay trong nước.

Hiện nay những hoạt động chính trị nhằm dân chủ hóa Việt Nam đang diễn ra cả ở hải ngoại và trong nước, nhưng chưa trở thành một lực đủ mạnh để trực diện công khai với đảng cộng sản ở trong nước. Trong thời gian tới đây, cùng với và ngay trong cuộc vận động tự do hóa xã hội ở trong nước, những thành phần dân chủ hải ngoại cần hỗ trợ và cùng làm việc với thành phần dân chủ và tiến bộ trong nước để tiến đến hình thành một lực lượng dân chủ đối đầu trực diện với đảng cộng sản. Đây là việc thiết lập vị thế chính trị công khai và trong sáng của phe dân chủ trước quốc dân trong nước và trước dư luận quốc tế.

Cuộc vận động thứ ba mà chúng ta cần thực hiện là vận động quốc tế để họ đồng tình và hỗ trợ cho hai cuộc vận động trên đây. Vận động quốc tế để họ tập trung áp lực lên giới cầm quyền để nới lỏng sự kiểm soát xã hội, nhờ đó xã hội được tự do hóa nhanh hơn, người dân được tự chủ hơn. Chúng ta cũng cần vận động quốc tế đồng tình và ủng hộ tiến trình dân chủ hóa chính quyền như là một giải pháp tối ưu để giúp phát triển một cách thật sự ổn định và bền vững cho Việt Nam nói riêng và cho khu vực Đông Nam Á nói chung.

Ba cuộc vận động này hỗ tương tác động với nhau. Cùng nhau hành động để tạo được thế đối trọng của dân chúng và xã hội, và lực đối lập chính trị với đảng cộng sản, phe dân chủ trong ngoài nước mới thuyết phục được quốc tế ủng hộ cuộc vận động dân chủ. Đồng thời, vận động được quốc tế ủng hộï tiến trình tự do hóa xã hội và dân chủ hóa chính quyền lại giúp đẩy nhanh quá trình hình thành thế đối trọng xã hội và lực đối lập chính trị tại Việt Nam. Trong giai đoạn đầu, ba cuộc vận động này nhằm hai mục tiêu là tạo sức mạnh đối trọng xã hội và xây dựng lực chính trị dân chủ ở trong nước. Trong giai đoạn cuối cùng, cả ba cuộc vận động đều tập trung vào một đối tượng là ban lãnh đạo cộng sản đang cầm quyền để tạo đột biến chính trị, thiết lập chế độ dân chủ pháp trị. Đây là mục đích và nội dung của lộ trình dân chủ toàn diện.

Riêng đối với cộng đồng hải ngoại, trong bối cảnh của một xã hội mở, một thế giới giao luu đa phương như hiện nay, cộng đồng hải ngoại có những điều kiện thuận lợi mà người dân trong nước không có để giúp tăng cường sức mạnh chính trị-xã hội cho người dân và cho thành phần dân chủ và tiến bộ trong nước. Những người dân chủ và cộng đồng người Việt hải ngoại đang ở ngay trong dòng chính mạch của thời đại, có điều kiện để thực hiện cả ba cuộc vận động trong lộ trình dân chủ, tổng hợp sức mạnh dân tộc với tiến bộ nhân loại, đưa cuộc vận động dân chủ hòa nhập trào lưu tự do, dân chủ của thế giới.

Ưu điểm của cộng đồng hải ngoại nằm ngay trong thế chính mạch quốc tế của cộng đồng. Biến cố 1975, dù đau thương, nhưng như mọi biến cố đau thương khác của dân tộc ta trong quá khứ, đã đem lại cho dân tộc ta một cơ hội và một chân trời phát triển rộng lớn chưa từng có. Việt Nam ngày nay có thêm một bộ phận Việt tộc quốc tế, cộng đồng người Việt hải ngoại, như một nhân tố hoàn toàn mới trong tiến trình mở rộng không gian sinh tồn và tiến hóa của dân tộc ra toàn nhân loại và toàn thế giới. Đây là một bộ phận tiền phong của dân tộc trong thời đại toàn cầu – bộ phận mở đường cho dân tộc hội nhập trào lưu phát triển của toàn thể nhân loại. Cộng đồng người Việt hải ngoại có triển vọng giúp dân tộc tiếp thu và vận dụng được tiến bộ của thế giới để đẩy nhanh tiến trình phát triển của đất nước trong thế kỷ XXI, mà trước mắt là hỗ trợ và tác động trực tiếp và có hiệu quả lên tiến trình tự do hóa và dân chủ hóa Việt Nam.

Nhưng để hoàn thành được trách nhiệm quan trọng này, cộng đồng Việt hải ngoại cần vượt qua được những khó khăn trở ngại và yếu kém, những yếu kém tất nhiên phải có của bộ phận tiền phong trong tiến trình phát triển quốc tế của dân tộc. Những yếu kém này trước hết nằm ngay trong nền văn hóa và sinh hoạt xã hội cổ truyền của dân tộc, bị đảo lộn bởi thời thế trong thế kỷ trước, và chưa kịp tu chỉnh và thích nghi với thời đại toàn cầu trong bối cảnh quốc tế mới. Những yếu kém đó lại bộc lộ rõ hơn trong cuộc đấu tranh với chế độ cộng sản ở trong nước, một cuộc đấu tranh đầy khó khăn và mới lạ. Khó khăn và mới lạ vì vừa phải đấu tranh vừa phải hội nhập dòng sống chính mạch quốc tế. Khó khăn và mới lạ vì đấu tranh gián tiếp từ xa, và đấu tranh tự phát, không có lãnh đạo và không hề được chuẩn bị. Trước những khó khăn và nhược điểm to lớn và căn bản như thế mà cộng đồng hải ngoại khắp nơi trên toàn thế giới, đã đứng vững, đã giúp thế hệ trẻ hơn thành công trong mọi lãnh vực, trong một thời gian rất ngắn thì, dù còn nhiều bất cập so với thế giới và thời đại, cộng đồng Việt hải ngoại cũng đã đạt được một thành tích đáng kể so với những cộng đồng hải ngoại của các dân tộc khác. Chúng ta cần nêu cao niềm tự tin này, vì đó cũng chính là sức mạnh của người Việt, sức mạnh đã giúp dân tộc Việt vượt qua bao nguy cơ diệt vong trong quá khứ.

Sự ra đời và phồn thịnh của cộng đồng Việt ở bên ngoài giải đất hình chữ S, trên khắp thế giới — phồn thịnh hơn chính cộng đồng Việt ở ngay trong lòng đất mẹ — có một ý nghĩa khác. Nhờ cùng tồn tại trong cộng đồng nhân loại, dân tộc ta có cơ hội để nhìn lại chính mình, đối diện với những nhược điểm và khuyết điểm trong lối sống và nếp tư duy của mình khi so sánh với các dân tộc khác. Nếu cộng đồng hải ngoại là niềm hy vọng tiền phương của dân tộc trong thời đại mới, thì đây cũng là một cảnh báo đáng quan tâm về thực trạng và tiền đồ dân tộc ngay chính trên quê hương Việt Nam. Cộng đồng hải ngoại do đó cũng có thể đóng góp thiết thực vào tiến trình định hình lại Việt tộc một cách toàn diện và triệt để trong mọi lãnh vực của đời sống quốc gia và xã hội Việt trên mảnh đất hình chữ S, từ văn hóa, nếp sống đến chính trị-xã hội. Nhận ra và khắc phục được các khuyết điểm trong lối sống và nếp tư duy Việt là bước mở đầu cần thiết và quan trọng không những cho cộng đồng hải ngoại, mà cho cả dân tộc trong tiến trình này.

Khắc phục khuyết điểm, phát huy sức sống tiềm tàng của toàn thể dân tộc và thế chính mạch quốc tế, cộng đồng Việt hải ngoại sẽ kết hợp được với toàn dân trong nước để thay đổi cơ chế chính trị-xã hội hiện nay và mở đường cho dân tộc tiến vào thời kỳ hưng thịnh mới trong thiên niên kỷ thứ ba, thời kỳ phát triển quốc tế của dân tộc Việt – thời kỳ Đại Việt 2000.

(15/12/2004)

Nguồn: Hành Trình Dân Tộc

http://www.doanviethoat.org/indexVN.htm

___________________

Ghi chú:

  Chuyển Hóa in đậm để nhấn mạnh.

  Chuyển Hóa xin đăng lại bài viết này như một lời chúc mừng năm mới 2017 Đinh Dậu gửi đến toàn thể độc giả.

Advertisements

Thảo luận

One thought on “VIỆT NAM: CON ĐƯỜNG TRƯỚC MẶT

  1. Năm 2016 đã kết thúc, để mở ra năm mới 2017. Đó là một năm diễn ra rất nhiều mốc sự kiện lẫn vụ việc lớn, quan trọng và nghiêm trọng, thu hút sự quan tâm lẫn day dứt của dư luận xã hội. Bởi cả sự kiện, lẫn vụ việc, cả đối nội lẫn đối ngọai đều liên quan đến vận nước- liên quan tới sự phát triển hoặc ngược lại, tụt hậu của quốc gia. Năm 2016 cũng là tròn 30 năm công cuộc Đổi mới trên khắp các lĩnh vực của đất nước. Từ kinh tế đến xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế…., từ đối nội đến đối ngoại. Thành tựu hay khiếm khuyết, những hay dở, được mất của công cuộc này đã phản chiếu trong đời sống một đất nước với biết bao vui buồn. Diện mạo hiện đại hạ tầng cơ sở, mức sống khá hơn trước cùng những suy thoái văn hóa- đạo lý nhân sinh. Có cả hoa trái và cỏ dại. Cả thành và bại, được và mất…con đường trước mắt của Việt Nam phải chú trọng hơn cả là yếu tố Con người, bao giờ cũng là yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất, quyết định sự thành bại, sự phát triển mỗi quốc gia.Tìm người tài chứ không tìm người nhà” Đó là phát ngôn của người đứng đầu Chính phủ sau quá nhiều những hiện tượng một người làm quan cả họ được nhờ, rồi nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ, bốn trí tuệ… Muốn thay đổi thì phải lấy đó là Thông điệp xuyên suốt may ra mới cải tổ thành công.

    Posted by Văn Dũng | Tháng Một 1, 2017, 4:06 sáng

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Lượt Xem

  • 972,805
free counters
%d bloggers like this: